196 lượt xem

Phương pháp bào chế Ba đậu

Trích Các phương pháp bào chế Đông dược – Nhà xuất bản Y học, trang 252-253

Tên gọi: Ba đậu, Ba đậu sương, Ba sương

Bộ phận dùng làm thuốc: Hạt, hạt già, chắc không mốc, không lép, không đen là loại tốt.

Cách bào chế:

Theo Lôi công bào chế: Bóc bỏ vỏ, gói vào giấy bản  dã dập cho  vào dầu vừng và rượu mỗi thứ 50%, nấu khô, nghiền nát như cao để dùng.

Theo Lý Thời Trân: Ba đậu có khi dùng nhân, có khi dùng vỏ, có khi dùng dầu, có khi dùng sống, có khi bọc cám sao, có khi sao với dấm, có khi đốt tồn tính, có khi nghiền nát ép bỏ dầu (Ba đậu sương) dùng trong các trường hợp điều trị cụ thể theo yêu cầu của thầy thuốc.

phương pháp bào chế ba đậu

Theo phương pháp của Việt Nam: Hạt Ba đậu bỏ vỏ, giã nát, cuồn vào giấy bản ép lại, khi nào dầu không dính ra giấy nữa là đạt, sao vàng gọi là Ba đậu sương hoặc sao đen gọi là Hắc ba đậu.

Tính vị quy kinh: Vị cay, tính nhiệt (thuốc độc bảng A) vào hai kinh tì vị và đại tràng.

Công dụng: Tả tích tụ thuộc chứng hàn, trục đàm thủy.

Chủ trị: Điều trị vùng ngực bụng đầy trướng, đau dữ dội, hàn tích tụ lâu ngày trong bụng (Trầm hàn cố lãnh).

Liều dùng: Ba đậy sương hoặc Hắc Ba đậu ngày dùng 0.2 – 0,5gr

Ghi chú: Khi bào chế Ba đậu chú ý đến mắt và tay. dầu Ba đậu nóng nên dễ gây tổn thương mắt và da

Bảo quản: Hạt Ba đậu thuốc độc bảng A nên bảo quản phải chu đáo, để nơi khô ráo, tránh ẩm, khi hạt bị đen là bỏ đi, không dùng được. 

Thẻ tìm kiếm: