320 lượt xem

Cách bào chế Hà thủ ô

Trích Các phương pháp bào chế Đông dược – Nhà xuất bản Y học, trang 341-342

Tên thuốc: Hà thủ ô, Tiên thủ ô, Chế thủ ô

Bộ phận dùng làm thuốc: Rễ, thường gọi là củ, dùng loại to, khô võ, có màu nâu sẫm, cứng đỏ, chắc, nhiều bột, ít xơ, không mọt là loại tốt.

Phương pháp bào chế:

Theo Lôi công bào chế: Rửa sạch, thái miếng cho vào chậu đổ rượu ủ một đêm, cứ 10 kg Hà thủ ô dùng 2,5 lít rượu. Hôm sau cho vào chõ đồ 4 giờ, lấy ra phơi trong bóng râm cho khô, lại tiếp tục tẩm rượu đồ phơi, làm 3 lần là được. Miếng Hà thủ ô có màu đen nâu.

Cách sơ chế Hà thủ ô

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch Hà thủ ô, ngâm nước vo gạo một ngày 1 đêm, rửa lại, đổ nước đậu đen cho ngập (Cứ 100gr đậu đen nấu với 2 lít nước cho nhừ) Nấu đến khi nước đậu đen cạn, trong khi nấu nên đảo đều để Hà thủ ô chín đều, khi Hà thủ ô chín mềm thì lấy ra rút bỏ lõi, thái mỏng, phơi khô, nếu còn nước đậu đen thì tiếp tục tẩm phơi cho đến khi hết.

Hoặc nấu theo kiểu cửu chưng cửu xái, Hà thủ ô rửa sạch ngâm nước vo gạo 4 ngày 4 đêm, ngày thay nước gạo một lần, sau đó cạo bỏ vỏ, rửa sạch, cạo bỏ vỏ Hà thủ ô, cho Hà thủ ô vào chõ dưới có lót gỗ để tránh cháy, một lớp dược liệu một lớp đậu đen, bỏ đậu đen lấy Hà thủ ô phơi khô, làm như vậy 9 lần, đêm nấu, ngày phơi, thái lát hoặc phơi khô trong bóng râm, hoặc sấy khô dùng, hoặc tán thành bột dùng.

Tính vị quy kinh: Vị đắng, ngọt, tính ấm, vào hai kinh can và thận.

Công dụng: Ích khí, trừ phong, mạnh gân cốt, bổ can thận.

Chủ trị: Chữa di tinh, đới hạ, huyết hư, đại tiện ra máu, cơ thể suy nhược.

Liều dùng: Ngày dùng từ 12-120gram

Kiêng kỵ: Người táo bón không được dùng, dùng Hà thủ ô không được ăn các loại hành.

Bảo quản: Thuốc đã bào chế để nơi khô ráo, tránh mốc mọt, thỉnh thoảng phơi.